Điều 226 Bộ luật hình sự 2015: Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
Bình luận ngắn gọn Điều 226 BLHS 2015 về tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, điều kiện truy cứu và lưu ý áp dụng.
Điều 226. Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
1.[187] Người nào cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam mà đối tượng là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
c) Thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên;
d) Gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý 500.000.000 đồng trở lên;
đ) Hàng hóa vi phạm trị giá 500.000.000 đồng trở lên.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
4. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a)[188] Thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều này với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 200.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 02 năm;
c) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.
Trọng tâm của Điều 226
Điều 226 không nhằm xử lý mọi hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, mà chỉ hình sự hóa những trường hợp xâm phạm đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam và đạt ngưỡng luật định. Cách thiết kế này cho thấy lập pháp ưu tiên phân tầng trách nhiệm: vi phạm nhỏ thường xử lý hành chính, còn vi phạm có tính thương mại, có lợi ích vật chất hoặc gây thiệt hại đáng kể mới bị coi là tội phạm.
Điểm mấu chốt khi áp dụng là phải chứng minh đồng thời yếu tố chủ thể (người phạm tội cố ý) và yếu tố định lượng (quy mô thương mại, thu lợi bất chính, thiệt hại hoặc trị giá hàng hóa vi phạm). Nếu không xác định được một trong các ngưỡng này, hành vi thường chưa đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 226.
Điều kiện để “kích hoạt” trách nhiệm hình sự
Đối với cá nhân, khoản 1 đặt ra các ngưỡng độc lập để cấu thành cơ bản: hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý với quy mô thương mại; thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng; gây thiệt hại từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng. Chỉ cần một trong các điều kiện này được chứng minh thì đã có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự.
Khoản 2 là khung tăng nặng, áp dụng khi có tổ chức, phạm tội từ hai lần trở lên, hoặc các mức thu lợi, thiệt hại, giá trị hàng hóa đạt ngưỡng cao hơn. Đây là dấu hiệu cho thấy hành vi đã chuyển từ vi phạm đơn lẻ sang hoạt động xâm phạm có tính hệ thống hoặc mức độ nguy hiểm lớn hơn.
Những nhầm lẫn thường gặp
Không phải mọi hàng hóa gắn dấu hiệu tương tự nhãn hiệu đều đương nhiên là tội phạm; cần xác định đó là hàng hóa giả mạo hoặc hàng hóa vi phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với đối tượng đang được bảo hộ. Cũng không thể chỉ nhìn vào số lượng hàng hóa để kết luận, vì Điều 226 đặt trọng tâm vào các chỉ số pháp lý như trị giá, thiệt hại và khoản thu lợi bất chính.
Một nhầm lẫn phổ biến khác là đồng nhất vi phạm sở hữu công nghiệp với mọi hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Điều 226 hiện chỉ điều chỉnh nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý, nên các đối tượng như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp hay bí mật kinh doanh phải được xem xét theo quy định khác nếu phát sinh tranh chấp.
Hình phạt bổ sung và trách nhiệm của pháp nhân
Điều luật còn cho phép áp dụng hình phạt bổ sung như phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc cấm làm công việc nhất định. Quy định này có ý nghĩa ngăn chặn việc tiếp tục sử dụng kỹ năng, vị trí hoặc mạng lưới kinh doanh để tái phạm.
Đáng chú ý, pháp nhân thương mại cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 4. Điều này phản ánh thực tế xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp thường diễn ra trong hoạt động sản xuất, kinh doanh có tổ chức, nên chế tài không chỉ nhắm vào cá nhân trực tiếp thực hiện mà còn vào chủ thể hưởng lợi từ mô hình vi phạm.
Giá trị áp dụng thực tiễn
Khi xử lý vụ việc cụ thể, cần tập trung vào ba câu hỏi: quyền bị xâm phạm có đang được bảo hộ hay không, hành vi có mang tính cố ý hay không, và các ngưỡng định lượng của Điều 226 có được chạm tới hay không. Nếu trả lời không đầy đủ cho ba câu hỏi này, việc định tội sẽ thiếu chắc chắn.
Về mặt thực tiễn, Điều 226 được xây dựng để bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh và giá trị khai thác thương mại của nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý. Do đó, trọng tâm của việc áp dụng không nằm ở hình thức giống nhau bên ngoài, mà ở mức độ xâm hại thực tế đối với quyền độc quyền đã được pháp luật bảo hộ.