Điều 219 Bộ luật hình sự 2015: Tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí

Bình luận Điều 219 BLHS 2015 về tội vi phạm quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí, trọng tâm cấu thành và ngưỡng truy cứu.

Điều 219. Tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí

1. Người nào được giao quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước mà vi phạm chế độ quản lý, sử dụng tài sản, gây thất thoát, lãng phí từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính[174] về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 12 năm:

a) Vì vụ lợi;

b) Có tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;

d) Gây thất thoát, lãng phí[175] từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng.

3. Phạm tội gây thất thoát, lãng phí[176] 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Trọng tâm của điều luật

Điều 219 nhằm bảo vệ tài sản Nhà nước trước các hành vi quản lý, sử dụng sai chế độ làm phát sinh thất thoát, lãng phí. Nhà làm luật không xử lý mọi sai sót trong quản lý, mà chỉ can thiệp bằng chế tài hình sự khi hành vi gây ra thiệt hại đáng kể hoặc tái phạm sau khi đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính. Cách tiếp cận này cho thấy mục tiêu là ngăn chặn việc sử dụng tài sản công thiếu trách nhiệm, đồng thời phân biệt ranh giới giữa vi phạm quản lý thông thường và tội phạm.

Điều kiện để bị truy cứu

Muốn áp dụng Điều 219, trước hết phải có chủ thể là người được giao quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước. Tiếp đó, phải chứng minh được hành vi vi phạm chế độ quản lý, sử dụng tài sản và hậu quả là thất thoát, lãng phí theo ngưỡng luật định. Đây là tội phạm có cấu thành vật chất, nên không đủ chỉ với việc ban hành quyết định sai hoặc làm trái quy trình; phải có thiệt hại thực tế được xác định rõ.

Ngưỡng định lượng là dấu hiệu then chốt: từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng ở khoản 1; từ 300 triệu đồng đến dưới 1 tỷ đồng hoặc có các tình tiết tăng nặng ở khoản 2; từ 1 tỷ đồng trở lên ở khoản 3. Trường hợp thiệt hại dưới 100 triệu đồng, người thực hiện vẫn có thể bị truy cứu nếu trước đó đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về chính hành vi này mà còn vi phạm. Vì vậy, khi đánh giá vụ việc, cần xem đồng thời cả hành vi, thiệt hạitiền sử xử lý.

Những điểm dễ hiểu sai

Một nhầm lẫn thường gặp là coi mọi khoản thất thoát trong khu vực công đều tự động cấu thành tội phạm. Thực tế, chỉ khi tài sản thuộc phạm vi Nhà nước giao quản lý, sử dụng và có đủ dấu hiệu hậu quả theo Điều 219 thì mới đặt ra trách nhiệm hình sự. Sai sót kỹ thuật, vi phạm nội bộ hoặc thiệt hại chưa đạt ngưỡng sẽ cần được xem xét theo cơ chế kỷ luật, hành chính hoặc dân sự trước.

Nhầm lẫn thứ hai là chỉ nhìn vào số tiền ghi nhận ban đầu mà bỏ qua việc khắc phục, thu hồi, hoàn trả. Trong thực tiễn, việc xác định thiệt hại phải bám sát phần giá trị Nhà nước thực sự bị mất đi, tránh cộng dồn máy móc hoặc tính trùng các khoản đã được bù đắp hợp lệ. Đây là điểm có ý nghĩa quyết định khi xác định khung hình phạt.

Lưu ý khi áp dụng

Cần đặc biệt chú ý tình tiết “vì vụ lợi”, “có tổ chức”“thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt”, vì đây là các dấu hiệu làm tăng nặng đáng kể mức hình phạt. Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, làm công việc nhất định hoặc bị tịch thu tài sản theo khoản 4. Trong hồ sơ thực tế, việc mô tả đúng vai trò được giao, quy trình quản lý bị vi phạm và phương pháp xác định thiệt hại là ba nội dung cần làm rõ ngay từ đầu.

Về bản chất, Điều 219 không nhằm trừng phạt quyết định quản lý rủi ro đã được cân nhắc đúng quy trình, mà xử lý hành vi làm trái dẫn đến mất mát tài sản công. Vì vậy, khi áp dụng điều luật này, trọng tâm không nằm ở kết quả bất lợi đơn thuần, mà ở việc chứng minh có lỗi vi phạm chế độ quản lý, sử dụng tài sản và hậu quả thiệt hại đủ ngưỡng luật định.

Điều 219 có áp dụng cho mọi sai sót trong quản lý tài sản công không?
Không. Chỉ khi có người được giao quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước vi phạm chế độ quản lý, sử dụng và gây thất thoát, lãng phí đủ ngưỡng luật định thì mới bị truy cứu.
Thiệt hại dưới 100 triệu đồng có bị xử lý hình sự không?
Có, nếu người đó đã từng bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về chính hành vi này mà còn vi phạm.
Điều 219 là tội phạm có cấu thành vật chất hay hình thức?
Là tội phạm có cấu thành vật chất, nên phải chứng minh được thiệt hại thực tế do hành vi vi phạm gây ra.
Việc đã khắc phục, hoàn trả tài sản có còn bị xử lý theo Điều 219 không?
Việc khắc phục có ý nghĩa khi xác định thiệt hại thực tế. Nếu không còn thiệt hại ròng đủ ngưỡng, căn cứ truy cứu hình sự sẽ không vững.
Các tình tiết nào làm tăng nặng hình phạt theo Điều 219?
Các tình tiết gồm vì vụ lợi, có tổ chức, dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, hoặc gây thất thoát, lãng phí từ 300 triệu đồng đến dưới 1 tỷ đồng.
Mục lục văn bản