Điều 216 Bộ luật hình sự 2015: Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động
Bình luận Điều 216 BLHS 2015 về tội trốn đóng bảo hiểm: dấu hiệu truy cứu, ngưỡng định lượng và lưu ý áp dụng thực tế.
Điều 216. Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động
1. Người nào có nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động mà gian dối hoặc bằng thủ đoạn khác để không đóng hoặc không đóng đầy đủ theo quy định từ 06 tháng trở lên thuộc một trong những trường hợp sau đây, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
a) Trốn đóng bảo hiểm từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;
b) Trốn đóng bảo hiểm cho từ 10 người đến dưới 50 người lao động.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
b) Trốn đóng bảo hiểm từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
c) Trốn đóng bảo hiểm cho từ 50 người đến dưới 200 người lao động;
d) Không đóng số tiền bảo hiểm đã thu hoặc đã khấu trừ của người lao động quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản 1 Điều này.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Trốn đóng bảo hiểm 1.000.000.000 đồng trở lên;
b) Trốn đóng bảo hiểm cho 200 người lao động trở lên;
c) Không đóng số tiền bảo hiểm đã thu hoặc đã khấu trừ của người lao động quy định tại điểm b hoặc điểm c khoản 2 Điều này.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
5. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;
c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng.
Trọng tâm lập pháp
Điều 216 thể hiện quan điểm xử lý nghiêm hành vi cố ý xâm phạm quỹ bảo hiểm và quyền được bảo đảm an sinh của người lao động. Nhà làm luật không hình sự hóa mọi vi phạm về đóng bảo hiểm, mà chỉ nhắm vào hành vi gian dối hoặc dùng thủ đoạn khác để trốn đóng, không đóng đầy đủ trong một thời gian đáng kể. Cách thiết kế này cho thấy ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm được đặt ở mức độ nguy hiểm cho xã hội, tính cố ý và quy mô vi phạm.
Điều kiện để bị xử lý hình sự
Muốn áp dụng Điều 216, trước hết phải có người có nghĩa vụ đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động và có hành vi trốn đóng theo thủ đoạn gian dối hoặc tương tự. Tiếp theo, hành vi phải kéo dài từ 06 tháng trở lên và thuộc một trong các ngưỡng định lượng mà điều luật quy định. Ở khoản 1, còn cần thêm điều kiện đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm; đây là dấu hiệu quan trọng để phân biệt với vi phạm lần đầu ở mức độ chưa đủ truy cứu.
Điểm cần nắm khi áp dụng
Yếu tố quyết định không phải chỉ là “chưa nộp tiền bảo hiểm”, mà là trốn đóng theo nghĩa có chủ ý né tránh nghĩa vụ. Vì vậy, cần tách bạch rõ giữa khó khăn dòng tiền, chậm thực hiện nghĩa vụ và hành vi che giấu, đối phó hoặc giữ lại khoản đã thu/đã khấu trừ của người lao động. Với khoản 2 và khoản 3, các dấu hiệu định khung được xây dựng theo số tiền trốn đóng, số người lao động bị ảnh hưởng và trường hợp không nộp số tiền đã thu hoặc đã khấu trừ.
Những hiểu nhầm thường gặp
Không phải mọi trường hợp nợ bảo hiểm đều đương nhiên là tội phạm; chỉ khi có đủ dấu hiệu luật định mới bị truy cứu. Cũng không thể coi việc doanh nghiệp đã thu tiền bảo hiểm từ tiền lương người lao động nhưng chưa nộp là lỗi hành chính thông thường, vì điều luật dành riêng tình tiết này với mức xử lý nặng hơn. Ngoài ra, việc xác định hậu quả trong điều luật này chủ yếu dựa trên định lượng pháp luật đặt ra, không phải chỉ dựa trên cảm tính về mức độ thiệt hại.
Lưu ý thực tiễn
Khi đánh giá một hồ sơ cụ thể, cần kiểm tra đồng thời: thời điểm phát sinh nghĩa vụ, thời gian kéo dài của hành vi, số tiền và số lao động liên quan, tình trạng đã bị xử phạt hành chính trước đó và chứng cứ về hành vi gian dối. Đối với pháp nhân thương mại, Điều 216 cho phép áp dụng chế tài tiền phạt rất lớn, phản ánh định hướng xử lý trực tiếp vào chủ thể sử dụng lao động. Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, nên rủi ro pháp lý không chỉ dừng ở tiền phạt.