Điều 213 Bộ luật hình sự 2015: Tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm
Bình luận ngắn gọn Điều 213 BLHS về tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm, trọng tâm cấu thành, hậu quả và lưu ý áp dụng.
Điều 213. Tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm
1.[168] Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tiền bảo hiểm từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 174, 353 và 355 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:
a) Thông đồng với người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm để giải quyết bồi thường bảo hiểm, trả tiền bảo hiểm trái pháp luật;
b) Giả mạo tài liệu, cố ý làm sai lệch thông tin để từ chối bồi thường, trả tiền bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm đã xảy ra;
c) Giả mạo tài liệu, cố ý làm sai lệch thông tin trong hồ sơ yêu cầu bồi thường, trả tiền bảo hiểm;
d) Tự gây thiệt hại về tài sản, sức khỏe của mình để hưởng quyền lợi bảo hiểm, trừ trường hợp luật có quy định khác.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:
a) Có tổ chức;
b) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;
c) Chiếm đoạt số tiền bảo hiểm từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
d) Gây thiệt hại từ 200.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
đ) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Chiếm đoạt số tiền bảo hiểm 500.000.000 đồng trở lên;
b) Gây thiệt hại 1.000.000.000 đồng trở lên.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
5.[169] Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều này chiếm đoạt số tiền bảo hiểm từ 200.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại từ 400.000.000 đồng đến dưới 2.000.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b và đ khoản 2 Điều này hoặc chiếm đoạt số tiền bảo hiểm từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại từ 2.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng;
c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này chiếm đoạt số tiền bảo hiểm 3.000.000.000 đồng trở lên hoặc gây thiệt hại 5.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 7.000.000.000 đồng;
d) Pháp nhân thương mại còn có thể bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.
Trọng tâm của điều luật
Điều 213 được thiết kế để xử lý hành vi gian dối trong quá trình yêu cầu, giải quyết và chi trả bảo hiểm, chứ không nhằm trừng phạt mọi tranh chấp bảo hiểm dân sự. Nhà làm luật đặt trọng tâm vào việc bảo vệ sự trung thực của dữ liệu, hồ sơ và quy trình bồi thường, vì đây là nền tảng để doanh nghiệp bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm xác lập quyền, nghĩa vụ đúng pháp luật.
Điểm cần nắm là tội phạm này chỉ hình thành khi có hành vi gian dối cụ thể và đạt ngưỡng định lượng luật định về số tiền chiếm đoạt hoặc thiệt hại. Vì vậy, không phải cứ hồ sơ thiếu chính xác, kê khai chưa đầy đủ hoặc có tranh cãi về phạm vi bồi thường là đủ cấu thành tội phạm.
Những hành vi bị xem xét
Điều luật bao quát bốn nhóm hành vi điển hình: thông đồng để chi trả trái pháp luật; giả mạo tài liệu hoặc làm sai lệch thông tin để từ chối bồi thường khi sự kiện bảo hiểm đã xảy ra; giả mạo tài liệu hoặc làm sai lệch thông tin trong hồ sơ yêu cầu bồi thường; và tự gây thiệt hại về tài sản, sức khỏe để hưởng quyền lợi bảo hiểm. Đây là các dạng gian lận trực tiếp làm biến dạng sự thật của sự kiện bảo hiểm hoặc hồ sơ yêu cầu chi trả.
Trong thực tiễn, yếu tố then chốt là mục đích chiếm đoạt hoặc làm phát sinh việc chi trả trái pháp luật. Nếu hành vi chỉ dừng ở sai sót thủ tục mà không có ý thức gian dối và không gây ra hậu quả luật định thì chưa đủ căn cứ áp dụng điều này.
Điều kiện để áp dụng
Đối với cá nhân, trách nhiệm hình sự được kích hoạt khi hành vi gian lận đạt ngưỡng chiếm đoạt từ 20 triệu đồng hoặc gây thiệt hại từ 50 triệu đồng theo khoản 1; các khung tăng nặng được xác định theo tổ chức, thủ đoạn tinh vi, giá trị chiếm đoạt hoặc thiệt hại lớn hơn, hoặc tái phạm nguy hiểm. Với pháp nhân thương mại, điều luật đặt ngưỡng định lượng riêng cao hơn, phản ánh mức độ nguy hiểm và khả năng tác động rộng của chủ thể này.
Cần phân biệt rõ tiền chiếm đoạt và thiệt hại thực tế. Thiệt hại ở đây là tổn thất vật chất thực tế do hành vi phạm tội gây ra, không đồng nhất với khoản tiền bảo hiểm bị chiếm đoạt; cách xác định này có ý nghĩa quyết định trong việc định khung.
Những hiểu sai thường gặp
Một nhầm lẫn phổ biến là đồng nhất mọi hành vi kê khai sai trong hồ sơ bảo hiểm với tội phạm. Trên thực tế, Điều 213 đòi hỏi phải có gian dối có chủ đích và đạt ngưỡng hậu quả luật định; thiếu một trong hai yếu tố này thì chưa thể truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều này.
Nhầm lẫn thứ hai là áp dụng lẫn với các tội xâm phạm sở hữu như lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Điều 213 là quy định chuyên biệt cho lĩnh vực bảo hiểm; khi hành vi đã được điều chỉnh đầy đủ bởi điều này thì cần ưu tiên áp dụng đúng tính chất chuyên ngành, tránh chồng lấn tội danh.
Lưu ý khi áp dụng thực tế
Khi xử lý vụ việc, cần làm rõ ba điểm: ai thực hiện hành vi gian dối, gian dối ở khâu nào của quy trình bảo hiểm, và hậu quả định lượng ra sao. Hồ sơ chứng cứ thường phải tập trung vào tài liệu bảo hiểm, giám định thiệt hại, đối chiếu thông tin khai báo và dòng tiền chi trả.
Đối với pháp nhân thương mại, phải chứng minh hành vi được thực hiện nhân danh pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân và có sự chỉ đạo hoặc chấp thuận theo cơ chế trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Đây là điểm mấu chốt để tránh quy trách nhiệm hình sự một cách máy móc cho doanh nghiệp khi sai phạm chỉ thuộc về cá nhân đơn lẻ.