Điều 204 Bộ luật hình sự 2015: Tội vi phạm quy định về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước

Bình luận Điều 204 BLHS 2015 về tội vi phạm quy định bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ và các dấu hiệu áp dụng.

Điều 204. Tội vi phạm quy định về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước

1. Người nào có trách nhiệm bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ mà vi phạm quy định của Nhà nước về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước hoặc cho người khác từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Gây thiệt hại 500.000.000 đồng trở lên.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Trọng tâm bảo vệ

Điều 204 nhằm bảo vệ tính an toàn, trung thực và khả năng kiểm soát của hệ thống hóa đơn, chứng từ trong hoạt động thu nộp ngân sách nhà nước. Nhà làm luật không hình sự hóa mọi sai sót hành chính, mà chỉ xử lý khi hành vi quản lý, bảo quản vi phạm quy định của Nhà nước và đã gây thiệt hại ở mức đáng kể. Vì vậy, yếu tố thiệt hại thực tế là điểm kích hoạt then chốt của điều luật.

Điều kiện để bị truy cứu

Muốn áp dụng Điều 204, phải có đồng thời ba nhóm dấu hiệu: người phạm tội có trách nhiệm bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ; có hành vi vi phạm quy định về bảo quản, quản lý; và hậu quả thiệt hại cho ngân sách nhà nước hoặc cho người khác đạt mức luật định. Với khung cơ bản, thiệt hại phải từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng. Nếu thiệt hại từ 500 triệu đồng trở lên hoặc phạm tội 02 lần trở lên thì chuyển sang khung nặng hơn.

Điểm cần hiểu đúng

Không phải cứ làm mất hóa đơn, chứng từ là đương nhiên bị truy cứu hình sự. Trên thực tế, phải xem xét người đó có thuộc chủ thể chịu trách nhiệm quản lý hay không, có vi phạm quy trình pháp luật hay không, và thiệt hại đã được xác định bằng tiền chưa. Nếu mới dừng ở vi phạm thủ tục, chưa đạt ngưỡng hậu quả, thì chưa đủ căn cứ cấu thành tội phạm theo điều này.

Điều 204 cũng không nhắm vào hành vi in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn hay hành vi sử dụng hóa đơn không hợp pháp để trốn thuế; những hành vi đó được xem xét theo điều luật khác, với bản chất xâm hại khác. Vì vậy, khi xử lý vụ việc, phải tách bạch giữa quản lý saitạo lập, lưu hành, sử dụng trái phép hóa đơn.

Lưu ý khi áp dụng

Trong thực tiễn, cần làm rõ nguồn gốc thiệt hại: thiệt hại phát sinh trực tiếp từ việc vi phạm quy định bảo quản, quản lý hay từ hành vi gian dối, chiếm đoạt, làm giả khác. Việc xác định đúng chủ thể cũng rất quan trọng, vì điều luật chỉ áp dụng cho người có trách nhiệm quản lý, bảo quản hóa đơn, chứng từ. Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, cho thấy tính phòng ngừa đối với lĩnh vực quản lý tài chính, kế toán.

Hiểu sai thường gặp

Một nhầm lẫn phổ biến là coi mọi thất lạc, hư hỏng hóa đơn đều là tội phạm. Cách hiểu đúng là chỉ khi có đủ dấu hiệu chủ thể, hành vi vi phạm quy định và hậu quả thiệt hại đạt ngưỡng thì mới đặt ra trách nhiệm hình sự. Một nhầm lẫn khác là chỉ nhìn vào giá trị thiệt hại mà bỏ qua điều kiện về người có trách nhiệm quản lý, trong khi đây là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm.

Làm mất hóa đơn có bị xử lý hình sự theo Điều 204 không?
Chỉ khi người đó có trách nhiệm quản lý, việc mất hóa đơn trái quy định và gây thiệt hại đạt ngưỡng luật định. Nếu chưa có hậu quả thiệt hại, chưa đủ căn cứ hình sự.
Điều 204 khác gì tội liên quan đến hóa đơn giả, hóa đơn mua bán trái phép?
Điều 204 xử lý hành vi quản lý, bảo quản sai gây thiệt hại. Hành vi làm giả, mua bán, phát hành trái phép thuộc nhóm tội khác, có dấu hiệu và bản chất khác.
Thiệt hại bao nhiêu thì áp dụng khung cơ bản của Điều 204?
Khung cơ bản áp dụng khi thiệt hại cho ngân sách nhà nước hoặc cho người khác từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng.
Khi nào Điều 204 chuyển sang khung nặng hơn?
Khi phạm tội 02 lần trở lên hoặc gây thiệt hại từ 500 triệu đồng trở lên, mức hình phạt sẽ thuộc khung quy định tại khoản 2.
Người phạm tội có thể bị cấm làm việc gì không?
Có. Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Mục lục văn bản