Điều 200 Bộ luật hình sự 2015: Tội trốn thuế
Bình luận pháp lý ngắn gọn về Điều 200 Bộ luật Hình sự 2015: dấu hiệu tội trốn thuế, ngưỡng truy cứu và chế tài áp dụng.
Điều 200. Tội trốn thuế
1.[157] Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây trốn thuế với số tiền từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 202, 250, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
a) Không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định của pháp luật;
b) Không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp;
c) Không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ hoặc ghi giá trị trên hóa đơn bán hàng thấp hơn giá trị thanh toán thực tế của hàng hóa, dịch vụ đã bán;
d) Sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp để hạch toán hàng hóa, nguyên liệu đầu vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm hoặc tăng số tiền thuế được khấu trừ, số tiền thuế được hoàn;
đ) Sử dụng chứng từ, tài liệu không hợp pháp khác để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được hoàn;
e) Khai sai với thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà không khai bổ sung hồ sơ khai thuế sau khi hàng hóa đã được thông quan, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 188 và Điều 189 của Bộ luật này;
g) Cố ý không kê khai hoặc khai sai về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 188 và Điều 189 của Bộ luật này;
h) Câu kết với người gửi hàng để nhập khẩu hàng hóa, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 188 và Điều 189 của Bộ luật này;
i) Sử dụng hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế không đúng mục đích quy định mà không khai báo việc chuyển đổi mục đích sử dụng với cơ quan quản lý thuế.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:
a) Có tổ chức;
b) Số tiền trốn thuế từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
d) Phạm tội 02 lần trở lên;
đ) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội trốn thuế với số tiền 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 1.500.000.000 đồng đến 4.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
5.[158] Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều này trốn thuế với số tiền từ 200.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195 và 196 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d và đ khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng;
c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;
d) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;
đ) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.
Trọng tâm của điều luật
Điều 200 bảo vệ trật tự quản lý thuế và nguồn thu ngân sách bằng cách hình sự hóa các hành vi gian dối nhằm làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được miễn, giảm, khấu trừ, hoàn. Cấu trúc điều luật cho thấy trọng tâm không nằm ở việc chậm nộp hay nhầm lẫn kỹ thuật đơn thuần, mà ở hành vi cố ý che giấu, bóp méo hoặc hợp thức hóa sai lệch nghĩa vụ thuế.
Vì vậy, khi áp dụng Điều 200, cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh được hành vi thuộc một trong các dạng được liệt kê tại khoản 1 và đồng thời đạt ngưỡng định lượng hoặc điều kiện tái phạm theo luật định. Đây là tiêu chí rất quan trọng để phân biệt trách nhiệm hình sự với xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế.
Điều kiện để bị truy cứu
Đối với cá nhân, hành vi trốn thuế chỉ bị coi là tội phạm khi số tiền trốn thuế từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng, hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội được liệt kê mà chưa được xóa án tích còn vi phạm. Quy định này thể hiện rõ chính sách hình sự theo hướng kết hợp định lượng và tái phạm.
Đối với pháp nhân thương mại, ngưỡng truy cứu được nâng lên và khung hình phạt cũng khác, phản ánh đặc thù tổ chức hoạt động kinh doanh, sổ sách và lợi ích kinh tế của doanh nghiệp. Đây là điểm thường bị nhầm lẫn trong thực tiễn khi đồng nhất điều kiện xử lý cá nhân với doanh nghiệp.
Những hành vi cần lưu ý
Các hành vi như không nộp hồ sơ thuế, không ghi chép sổ kế toán, không xuất hóa đơn, sử dụng hóa đơn chứng từ không hợp pháp, khai sai hàng hóa xuất nhập khẩu hoặc dùng hàng hóa miễn thuế sai mục đích đều có thể cấu thành trốn thuế nếu làm phát sinh hậu quả về số thuế phải nộp. Điểm chung của các hành vi này là tạo ra sự sai lệch có chủ đích trong căn cứ xác định nghĩa vụ thuế.
Trong thực tiễn, dễ nhầm giữa vi phạm thủ tục thuế và trốn thuế. Không phải mọi sai sót về kê khai đều là tội phạm; chỉ khi hành vi có tính gian dối và đạt ngưỡng luật định mới chuyển từ xử phạt hành chính sang trách nhiệm hình sự.
Chế tài và ý nghĩa thực tiễn
Điều 200 quy định nhiều khung hình phạt tăng dần theo mức độ nguy hiểm, từ phạt tiền hoặc phạt tù đối với cá nhân đến đình chỉ hoạt động, phạt tiền rất lớn hoặc đình chỉ vĩnh viễn đối với pháp nhân thương mại. Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung như cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề, cấm kinh doanh hoặc tịch thu tài sản.
Ý nghĩa thực tiễn của điều luật là buộc người nộp thuế, nhất là doanh nghiệp, phải kiểm soát chặt chẽ hóa đơn, chứng từ, sổ sách và quy trình kê khai. Khi đánh giá một vụ việc, cần tập trung vào ý chí gian dối, cách thức che giấu nghĩa vụ thuế và số tiền trốn thuế thực tế, thay vì chỉ nhìn vào hình thức sai sót trên hồ sơ.