Điều 194 Bộ luật hình sự 2015: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh
Bình luận pháp lý ngắn gọn về Điều 194 BLHS 2015: dấu hiệu cấu thành, khung hình phạt và lưu ý khi xử lý tội sản xuất, buôn bán thuốc giả.
Điều 194. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh
1. Người nào sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2.[143] Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
đ) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Buôn bán qua biên giới;
g) Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 150.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
h) Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
i) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
k) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
3.[144] Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng đến dưới 2.000.000.000 đồng;
c) Làm chết người;
d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
e) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.
4.[145] Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Thu lợi bất chính 2.000.000.000 đồng trở lên;
b) Làm chết 02 người trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên;
d) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.
5.[146] Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
6.[147] Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 8.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, e, g, h, i và k khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 8.000.000.000 đồng đến 18.000.000.000 đồng;
c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 18.000.000.000 đồng đến 30.000.000.000 đồng;
d) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này, thì bị phạt tiền từ 30.000.000.000 đồng đến 40.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 01 năm đến 03 năm;
đ) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;
e) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 600.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.
Ý nghĩa và định hướng bảo vệ đặc biệt
Điều 194 được thiết kế với chính sách hình sự nghiêm khắc hơn nhiều so với các hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả thông thường, vì đối tượng tác động là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh — nhóm hàng hóa liên quan trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng con người. Nhà làm luật không chỉ bảo vệ trật tự quản lý kinh tế mà còn đặt trọng tâm vào an toàn điều trị và niềm tin của người bệnh đối với thị trường dược phẩm.
Vì vậy, điều luật này không đánh giá hành vi đơn thuần theo giá trị hàng giả, mà coi trọng cả nguy cơ gây hại và hậu quả thực tế. Càng có tổ chức, chuyên nghiệp, xuyên biên giới, thu lợi lớn hoặc gây tổn hại sức khỏe, tài sản thì khung hình phạt càng nặng.
Dấu hiệu cốt lõi để áp dụng
Để áp dụng Điều 194, cần xác định đủ hai yếu tố cơ bản: có hành vi sản xuất hoặc buôn bán, và đối tượng là hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh. Trong thực tiễn, “buôn bán” bao gồm đưa vào lưu thông, phân phối, bán lẻ, bán sỉ hoặc tổ chức tiêu thụ thuốc giả.
Điểm mấu chốt là hành vi phải được thực hiện cố ý. Người phạm tội thường biết rõ hàng hóa là thuốc giả nhưng vẫn sản xuất hoặc đưa ra thị trường nhằm thu lợi bất chính; đây là đặc trưng quan trọng để phân biệt với sai sót kỹ thuật, nhầm lẫn nhãn mác hoặc vi phạm hành chính trong hoạt động dược.
Những hiểu sai thường gặp
Không ít trường hợp cho rằng chỉ khi thuốc giả đã gây chết người hoặc gây thiệt hại lớn mới cấu thành tội phạm. Cách hiểu này không đúng, vì tội phạm đã hoàn thành ngay khi có hành vi sản xuất hoặc buôn bán thuốc giả, còn hậu quả chỉ là căn cứ để định khung hình phạt.
Một nhầm lẫn khác là đồng nhất mọi hàng hóa kém chất lượng với hàng giả. Với Điều 194, trọng tâm không phải là thuốc “kém hiệu quả” hay “không đạt kỳ vọng điều trị”, mà là thuốc giả theo bản chất pháp lý: không có dược chất, có dược chất nhưng sai hàm lượng, không đủ thành phần, hoặc có dược chất khác với công bố.
Điểm cần lưu ý khi áp dụng trong vụ việc cụ thể
Việc định tội và định khung thường phụ thuộc mạnh vào kết quả giám định, chứng cứ về nguồn gốc hàng hóa, quy mô đường dây, doanh thu, lợi nhuận và hậu quả đối với người sử dụng. Trong nhiều vụ án, tài liệu về nhãn mác, hóa đơn, kho hàng, phương thức phân phối và dữ liệu giao dịch là cơ sở quan trọng để chứng minh tính chất chuyên nghiệp hoặc tổ chức.
Đối với trường hợp có hậu quả về sức khỏe hoặc tài sản, cần tách bạch giữa hậu quả trực tiếp của thuốc giả và các yếu tố bệnh lý sẵn có của người sử dụng. Đây là điểm then chốt khi xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể, thiệt hại tài sản và mối quan hệ nhân quả.
Trách nhiệm của pháp nhân thương mại
Điều 194 cũng áp dụng đối với pháp nhân thương mại, cho thấy nhà làm luật không chỉ xử lý cá nhân trực tiếp thực hiện hành vi mà còn nhắm tới mô hình kinh doanh có tổ chức. Chế tài đối với pháp nhân chủ yếu là phạt tiền rất lớn, đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc vĩnh viễn, kèm các hình phạt bổ sung như cấm kinh doanh, cấm huy động vốn.
Trong thực tiễn, đây là quy định đặc biệt quan trọng với các cơ sở sản xuất, phân phối dược phẩm, vì trách nhiệm hình sự không dừng ở người điều hành trực tiếp mà có thể mở rộng đến chủ thể pháp lý đứng sau hoạt động kinh doanh thuốc giả.