Điều 193 Bộ luật hình sự 2015: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm
Bình luận Điều 193 BLHS 2015 về tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm và các dấu hiệu cần lưu ý.
Điều 193. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm
1. Người nào sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.
2.[138] Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
đ) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Buôn bán qua biên giới;
g) Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 150.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
h) Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
i) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
k) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
3.[139] Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:
a) Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng;
c) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng;
d) Làm chết người;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%.
4.[140] Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Thu lợi bất chính 1.500.000.000 đồng trở lên;
b) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên;
c) Làm chết 02 người trở lên;
d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên.
5.[141] Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
6.[142] Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 6.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, e, g, h, i và k khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 6.000.000.000 đồng đến 12.000.000.000 đồng;
c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 12.000.000.000 đồng đến 18.000.000.000 đồng;
d) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này, thì bị phạt tiền từ 18.000.000.000 đồng đến 36.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;
đ) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;
e) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 600.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.
Ý nghĩa bảo vệ đặc biệt nghiêm ngặt
Điều 193 được xây dựng trên quan điểm ưu tiên bảo vệ sức khỏe, tính mạng con người và sự an toàn của thị trường thực phẩm. So với các hành vi gian dối thông thường, việc làm giả lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm bị nhìn nhận là nguy hiểm hơn vì tác động trực tiếp đến số đông người tiêu dùng và có thể gây hậu quả lan rộng.
Vì vậy, điều luật không đợi đến khi có người bị ngộ độc, bị thương tích hay thiệt hại tài sản mới xử lý. Chỉ cần có hành vi sản xuất hoặc buôn bán hàng giả thuộc nhóm hàng hóa này là đã có cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự.
Cấu thành tội phạm cần chú ý
Điểm then chốt khi áp dụng là phải xác định đúng đối tượng hàng giả và đúng hành vi. Hàng hóa phải là lương thực, thực phẩm hoặc phụ gia thực phẩm; còn hành vi phải là sản xuất hoặc buôn bán hàng giả, không phải mọi hành vi vi phạm về nhãn mác hay chất lượng đều tự động cấu thành tội này.
Trong thực tiễn, lỗi của người phạm tội phải là cố ý; tức là biết rõ hàng hóa là giả nhưng vẫn thực hiện. Nếu người bán không biết hàng mình kinh doanh là hàng giả và không có căn cứ chứng minh việc biết rõ đó là hàng giả, việc xử lý hình sự theo Điều 193 không đặt ra.
Khung hình phạt được phân tầng theo mức độ nguy hiểm
Điều luật thiết kế nhiều khung tăng nặng dựa trên tổ chức, tính chuyên nghiệp, tái phạm nguy hiểm, vai trò lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc danh nghĩa cơ quan, tổ chức, cũng như quy mô hàng giả, khoản thu lợi bất chính và hậu quả gây ra. Cách thiết kế này cho thấy nhà làm luật không chỉ xử lý hành vi gian dối, mà còn nhắm tới các đường dây, ổ nhóm và hoạt động có tính thương mại hóa cao.
Người áp dụng cần đặc biệt lưu ý các ngưỡng định lượng về giá trị hàng giả, thu lợi bất chính, thiệt hại tài sản, tỷ lệ tổn thương cơ thể và số người bị hại. Việc xác định sai ngưỡng có thể làm thay đổi hoàn toàn khung hình phạt.
Lưu ý khi phân biệt với vi phạm hành chính
Không phải mọi hành vi liên quan đến thực phẩm kém chất lượng đều bị xử lý hình sự theo Điều 193. Nếu chỉ là vi phạm tiêu chuẩn, quy chuẩn, nhãn hàng hóa hoặc điều kiện kinh doanh mà chưa đến mức là hàng giả theo nghĩa hình sự, thường cần xem xét các chế tài hành chính hoặc điều luật khác phù hợp hơn.
Ngược lại, khi đã có yếu tố làm giả nhằm đưa sản phẩm thay thế hàng thật hoặc đánh lừa người tiêu dùng về bản chất, nguồn gốc, công dụng của hàng hóa, thì hành vi có thể vượt ngưỡng xử lý hành chính và chuyển sang trách nhiệm hình sự.
Trách nhiệm của pháp nhân thương mại
Điều 193 cũng quy định rõ trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại, với mức phạt tiền rất lớn và có thể bị đình chỉ hoạt động hoặc cấm kinh doanh, cấm huy động vốn trong một số trường hợp. Điều này phản ánh thực tế nhiều hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả thực phẩm được tổ chức dưới dạng doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh hoặc chuỗi phân phối.
Khi xử lý pháp nhân, cần tách bạch giữa trách nhiệm của tổ chức và trách nhiệm cá nhân trực tiếp thực hiện, chỉ đạo, phê duyệt hoặc tổ chức đường dây vi phạm. Đây là điểm có ý nghĩa thực tiễn lớn trong các vụ án về thực phẩm giả quy mô lớn.
Điểm cần nhớ khi áp dụng
Trọng tâm của Điều 193 là hành vi làm giả hoặc kinh doanh hàng giả trong lĩnh vực thực phẩm, không phải hậu quả đã xảy ra đến đâu. Càng có tổ chức, chuyên nghiệp, quy mô lớn hoặc gây thiệt hại, mức xử lý càng nghiêm khắc. Khi đánh giá vụ việc, cần kiểm tra đồng thời ba yếu tố: đúng loại hàng hóa, đúng hành vi và đủ dấu hiệu lỗi cố ý.