Điều 191 Bộ luật hình sự 2015: Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm

Bình luận ngắn gọn Điều 191 BLHS 2015 về tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, ngưỡng truy cứu và điểm cần lưu ý khi áp dụng.

Điều 191. Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm

1.[127] Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng từ 50 kilôgam đến dưới 100 kilôgam hoặc từ 50 lít đến dưới 100 lít;

b) Thuốc lá điếu nhập lậu từ 1.500 bao đến dưới 3.000 bao;

c) Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;

d) Hàng hóa khác mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

đ) Hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;

e) Hàng hóa dưới mức quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 188, 189, 190, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

2.[128] Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

d) Có tính chất chuyên nghiệp;

đ) Thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng từ 100 kilôgam đến dưới 300 kilôgam hoặc từ 100 lít đến dưới 300 lít;

e) Thuốc lá điếu nhập lậu từ 3.000 bao đến dưới 4.500 bao;

g) Pháo nổ từ 40 kilôgam đến dưới 120 kilôgam;

h) Hàng hóa khác mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

i) Hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 300.000.000 đồng đến dưới 700.000.000 đồng;

k) Vận chuyển qua biên giới, trừ hàng hóa là thuốc lá điếu nhập lậu;

l) Tái phạm nguy hiểm.

3.[129] Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng 300 kilôgam trở lên hoặc 300 lít trở lên;

b) Thuốc lá điếu nhập lậu 4.500 bao trở lên;

c) Pháo nổ 120 kilôgam trở lên;

d) Hàng hóa khác mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng trị giá 500.000.000 đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính 500.000.000 đồng trở lên;

đ) Hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính 700.000.000 đồng trở lên.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

5. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:

a)[130] Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;

b)[131] Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, d, đ, e, g, h, i, k và l khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng;

c)[132] Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;

d) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;

đ) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Trọng tâm của điều luật

Điều 191 nhằm ngăn chặn việc cất giữluân chuyển hàng cấm vào thị trường, đặc biệt là các loại hàng hóa có nguy cơ cao đối với trật tự quản lý kinh tế, an toàn xã hội và sức khỏe cộng đồng. Quy định này không xử lý mọi vi phạm hành chính liên quan đến hàng cấm, mà chỉ “kích hoạt” trách nhiệm hình sự khi hành vi đạt ngưỡng định lượng, giá trị, thu lợi bất chính hoặc tái vi phạm theo luật định.

Các dấu hiệu phải kiểm tra khi áp dụng

Muốn xác định có phạm tội hay không, trước hết phải xác định đúng đối tượng hàng cấm: hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng, hoặc hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam. Sau đó phải đối chiếu định lượng, giá trị hoặc mức thu lợi bất chính theo từng khoản của Điều 191, vì đây là căn cứ trực tiếp để phân tầng trách nhiệm hình sự.

Trường hợp hàng hóa dưới ngưỡng định lượng hoặc giá trị, điều luật vẫn cho phép truy cứu nếu người vi phạm đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án về các tội tương tự mà chưa được xóa án tích còn vi phạm. Đây là điểm thể hiện rõ chủ trương xử lý nghiêm hành vi tái phạm, không để người vi phạm lợi dụng mức độ nhỏ lẻ để né tránh chế tài hình sự.

Phân biệt đúng với các tội danh khác

Điều 191 chỉ áp dụng khi hành vi là tàng trữ hoặc vận chuyển hàng cấm. Nếu hành vi là sản xuất, buôn bán, xuất nhập khẩu, hoặc có dấu hiệu xâm phạm khách thể khác đã được điều chỉnh ở điều luật chuyên biệt, phải áp dụng tội danh tương ứng thay vì Điều 191. Đây là lỗi định tội thường gặp nhất trong thực tiễn.

Một nhầm lẫn khác là đồng nhất “hàng cấm” với mọi hàng hóa không có hóa đơn, chứng từ. Trên thực tế, thiếu chứng từ chỉ là dấu hiệu quản lý; còn để cấu thành tội phạm theo Điều 191, phải chứng minh được hàng hóa thuộc danh mục bị cấm hoặc chưa được phép lưu hành, kèm theo các điều kiện định lượng, giá trị hoặc tái phạm theo luật.

Lưu ý về khung hình phạt

Điều luật thiết kế ba khung chính, từ phạt tiền hoặc phạt tù ngắn hạn ở khoản 1 đến mức tù cao hơn khi có tổ chức, lợi dụng chức vụ, vận chuyển qua biên giới hoặc tái phạm nguy hiểm ở khoản 2, và mức nghiêm khắc nhất ở khoản 3 cho hành vi có quy mô lớn. Cách phân hóa này cho thấy nhà làm luật đánh giá rất cao tính chất nguy hiểm của hành vi khi hàng cấm được cất giữ hoặc lưu thông với quy mô lớn, có tổ chức hoặc xuyên biên giới.

Đối với pháp nhân thương mại, trách nhiệm hình sự được đặt ra độc lập với cá nhân nếu hành vi được thực hiện nhân danh pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân và có sự chỉ đạo, điều hành của pháp nhân. Đây là điểm cần đặc biệt lưu ý trong các vụ việc liên quan đến doanh nghiệp kinh doanh, vận chuyển hoặc kho bãi hàng hóa.

Ý nghĩa thực tiễn

Về bản chất, Điều 191 là công cụ bảo vệ trật tự quản lý kinh tế bằng cách đánh vào khâu giữ hàngluân chuyển hàng trước khi hàng cấm đi vào tiêu thụ. Khi áp dụng, trọng tâm không nằm ở lời khai chủ quan của người vi phạm mà ở việc chứng minh đúng loại hàng, đúng ngưỡng và đúng bối cảnh vi phạm. Chỉ khi ba nhóm yếu tố này được làm rõ, việc định tội mới bảo đảm chính xác và tránh chồng lấn với các tội danh khác.

Khi nào hành vi tàng trữ, vận chuyển hàng cấm bị xử lý hình sự?
Khi hàng hóa thuộc danh mục bị cấm hoặc chưa được phép lưu hành và đạt ngưỡng định lượng, giá trị, thu lợi bất chính; hoặc dưới ngưỡng nhưng đã bị xử phạt, đã bị kết án mà còn vi phạm.
Thiếu hóa đơn, chứng từ có đủ để kết tội theo Điều 191 không?
Không. Thiếu chứng từ chỉ là dấu hiệu nghi vấn. Phải chứng minh hàng hóa thuộc loại hàng cấm hoặc chưa được phép lưu hành theo đúng điều luật.
Điều 191 khác gì với tội buôn bán hàng cấm?
Điều 191 xử lý hành vi tàng trữ, vận chuyển; còn buôn bán, sản xuất, xuất nhập khẩu hàng cấm phải xem tội danh tương ứng ở điều luật khác.
Pháp nhân thương mại có bị truy cứu theo Điều 191 không?
Có. Nếu hành vi được thực hiện nhân danh pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân và có sự chỉ đạo, điều hành của pháp nhân thì pháp nhân thương mại có thể bị xử lý hình sự.
Mục lục văn bản