Điều 169 Bộ luật hình sự 2015: Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Bình luận Điều 169 BLHS 2015: dấu hiệu bắt cóc làm con tin, mục đích chiếm đoạt và các khung hình phạt.

Điều 169. Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2[87]. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Dùng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

d) Đối với người dưới 16 tuổi;

đ) Đối với 02 người trở lên;

e) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

g) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;

h) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

i) Tái phạm nguy hiểm.

3.[88] Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 18 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

4.[89] Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Làm chết người;

c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

5. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Trọng tâm của điều luật

Điều 169 không chỉ xử lý hành vi xâm phạm thân thể, mà nhắm trực tiếp vào thủ đoạn dùng con tin để ép buộc giao tài sản. Đây là tội phạm có tính chất đặc biệt nguy hiểm vì xâm phạm cùng lúc quyền tự do thân thể, an toàn tính mạng và quyền sở hữu. Đường lối xử lý cho thấy nhà làm luật ưu tiên ngăn chặn ngay từ giai đoạn thực hiện hành vi bắt cóc, không đợi đến khi tài sản bị chiếm đoạt xong mới xử lý.

Điều kiện để áp dụng

Dấu hiệu cốt lõi để “kích hoạt” điều luật là phải có hành vi bắt cóc người khác làm con tin và mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản. Vì đây là tội phạm hình thức, chỉ cần hành vi bắt cóc đã được thực hiện với mục đích chiếm đoạt thì tội phạm đã hoàn thành, không phụ thuộc việc có nhận được tiền chuộc hay không. Khi xác định tội danh, cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh ý chí chiếm đoạt thể hiện qua diễn biến vụ việc, lời đe dọa, yêu sách tiền, cách giam giữ hoặc việc liên hệ với thân nhân nạn nhân.

Những điểm dễ nhầm

Nhiều trường hợp nhầm lẫn tội này với bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật. Điểm phân biệt nằm ở mục đích: nếu việc bắt giữ chỉ nhằm khống chế, hành hạ, trả thù hoặc gây sức ép khác thì chưa phải Điều 169; ngược lại, nếu người phạm tội dùng nạn nhân làm con tin để đòi tài sản thì thuộc tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Cũng không được đồng nhất giá trị tài sản “sẽ chiếm đoạt” với hậu quả thực tế; việc định khung chủ yếu dựa trên tài sản bị yêu cầu chiếm đoạt và các tình tiết tăng nặng của vụ án.

Ý nghĩa của các khung hình phạt

Các khung tăng nặng phản ánh mức độ nguy hiểm tăng dần của hành vi, từ số lượng nạn nhân, tính chất chuyên nghiệp, việc dùng vũ khí cho đến thiệt hại về sức khỏe, tính mạng và giá trị tài sản. Đáng chú ý, điều luật tách riêng các ngưỡng giá trị tài sản và ngưỡng tỷ lệ tổn thương cơ thể để lượng hóa mức độ nguy hiểm một cách rõ ràng. Cách thiết kế này giúp việc định khung bám sát hậu quả và mức độ đe dọa thực tế đối với nạn nhân, thay vì chỉ nhìn vào ý định ban đầu của người phạm tội.

Lưu ý khi áp dụng

Trong thực tiễn, cần chứng minh đồng thời hai nhóm tình tiết: hành vi bắt cóc làm con tin và mục đích chiếm đoạt tài sản. Nếu chỉ có giữ người, đe dọa hoặc cưỡng ép mà không có yêu cầu tài sản rõ ràng, việc áp dụng Điều 169 sẽ không vững. Ngược lại, nếu đã có bắt cóc kèm yêu sách tài sản nhưng chưa nhận được tiền, vẫn phải xử lý theo tội này vì hành vi đã hoàn thành.

Điều 169 có cần phải chiếm đoạt được tài sản mới cấu thành tội không?
Không. Chỉ cần bắt cóc người khác làm con tin với mục đích chiếm đoạt tài sản thì tội phạm đã hoàn thành, dù chưa nhận được tiền.[1]
Dấu hiệu quan trọng nhất để phân biệt với tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là gì?
Là mục đích chiếm đoạt tài sản. Nếu bắt giữ làm con tin để đòi tiền chuộc thì thuộc Điều 169; nếu không nhằm tài sản thì không.[11]
Giá trị tài sản định khung được hiểu như thế nào?
Điều luật định khung theo giá trị tài sản bị chiếm đoạt hoặc yêu cầu chiếm đoạt, không phụ thuộc việc thực tế đã lấy được bao nhiêu tiền.[1][2]
Người chuẩn bị phạm tội này có bị xử lý không?
Có. Điều 169 quy định người chuẩn bị phạm tội cũng bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.[7]
Có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung không?
Có. Ngoài hình phạt tù, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền, quản chế, cấm cư trú hoặc tịch thu tài sản theo khoản 6 Điều 169.[7]
Mục lục văn bản