Điều 153 Bộ luật hình sự 2015: Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi
Bình luận pháp lý ngắn gọn về Điều 153 BLHS 2015: dấu hiệu cấu thành, khung hình phạt và lưu ý áp dụng.
Điều 153. Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi
1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác chiếm giữ hoặc giao cho người khác chiếm giữ người dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
2.[74] Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp;
c) Đối với người mà mình có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng;
d) Đối với từ 02 người đến 05 người;
đ) Phạm tội 02 lần trở lên;
e) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.
3.[75] Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:
a) Có tính chất chuyên nghiệp;
b) Đối với 06 người trở lên;
c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
d) Làm nạn nhân chết;
đ) Tái phạm nguy hiểm.
4.[76] Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Ý nghĩa bảo vệ của điều luật
Điều 153 đặt trọng tâm vào việc bảo vệ người dưới 16 tuổi như một nhóm dễ bị tổn thương, cần được bảo vệ ở mức độ đặc biệt nghiêm ngặt. Nhà làm luật không chỉ xử lý hành vi chiếm đoạt theo nghĩa “bắt giữ” mà còn bao quát cả việc giao cho người khác chiếm giữ, nhằm ngăn chặn mọi hình thức tước đoạt tự do trái pháp luật đối với trẻ em và người chưa thành niên.
Việc tách tội danh này thành một điều luật độc lập cho thấy mục tiêu phân hóa rõ giữa các hành vi xâm hại trẻ em, tránh nhập nhằng với các tội xâm phạm nhân thân khác. Cách thiết kế khung hình phạt tăng dần phản ánh quan điểm xử lý nghiêm hơn khi hành vi có tổ chức, lợi dụng quan hệ tin cậy, gây hậu quả sức khỏe nghiêm trọng hoặc dẫn đến chết người.
Dấu hiệu để áp dụng
Muốn áp dụng Điều 153, trước hết phải có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác để chiếm giữ hoặc giao cho người khác chiếm giữ người dưới 16 tuổi. Đây là dấu hiệu nền tảng, thiếu yếu tố này thì không thể định tội theo điều luật này. Đồng thời, độ tuổi của nạn nhân phải được xác định rõ là dưới 16 tuổi tại thời điểm xảy ra hành vi.
Điều luật cũng cho thấy cấu thành tội phạm không đòi hỏi phải có mục đích vụ lợi hay hậu quả đặc biệt mới phát sinh trách nhiệm hình sự ở khoản 1. Chỉ cần hành vi chiếm đoạt đã hoàn thành thì tội phạm đã được xác lập; các tình tiết ở khoản 2 và khoản 3 là căn cứ định khung tăng nặng.
Những điểm cần phân biệt
Trong thực tiễn, dễ nhầm tội này với các tội xâm phạm tự do thân thể, mua bán người dưới 16 tuổi hoặc bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Điểm phân biệt nằm ở đối tượng bảo vệ và bản chất hành vi: Điều 153 tập trung vào việc chiếm giữ trái phép chính người dưới 16 tuổi, không phải chiếm đoạt tài sản hay mua bán theo nghĩa chuyển nhượng vì lợi ích khác.
Một nhầm lẫn thường gặp là cho rằng phải có hậu quả thương tích hoặc thiệt hại mới cấu thành tội phạm. Thực tế, thương tích chỉ là tình tiết định khung ở khoản 2, khoản 3; còn hành vi chiếm đoạt đã đủ yếu tố cấu thành cơ bản nếu thỏa mãn dấu hiệu khách quan và chủ thể có năng lực trách nhiệm hình sự.
Lưu ý khi áp dụng thực tiễn
Khi xử lý vụ việc, cần làm rõ mối quan hệ giữa người phạm tội và nạn nhân, nhất là trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp hoặc trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng. Đây là những tình tiết làm tăng đáng kể mức độ nguy hiểm của hành vi vì phản ánh sự lạm dụng niềm tin và nghĩa vụ bảo vệ người chưa thành niên.
Việc xác định đúng số lượng nạn nhân, mức độ tổn thương cơ thể, tính chất chuyên nghiệp hoặc tái phạm nguy hiểm có ý nghĩa trực tiếp trong việc chọn khung hình phạt. Ngoài hình phạt tù, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc cấm hành nghề, nên cần đánh giá đầy đủ hậu quả pháp lý ngay từ giai đoạn định tội và định khung.