Điều 152 Bộ luật hình sự 2015: Tội đánh tráo người dưới 01 tuổi

Bình luận pháp lý ngắn gọn về Điều 152 BLHS 2015: dấu hiệu cấu thành, tình tiết tăng nặng và lưu ý áp dụng.

Điều 152. Tội đánh tráo người dưới 01 tuổi

1. Người nào đánh tráo người dưới 01 tuổi[73], thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp;

c) Đối với người dưới 01 tuổi mà mình có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng;

d) Phạm tội 02 lần trở lên.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tái phạm nguy hiểm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Trọng tâm bảo vệ của điều luật

Điều 152 đặt trọng tâm vào việc bảo vệ danh tính, nguồn gốc huyết thống và quyền được nhận diện đúng của trẻ dưới 01 tuổi. Đây là nhóm chủ thể đặc biệt yếu thế, chưa có khả năng tự bảo vệ, nên nhà làm luật xử lý nghiêm cả hành vi đánh tráo dù chưa gây ra hậu quả vật chất rõ rệt. Mục tiêu của điều luật là ngăn chặn việc làm sai lệch thân phận trẻ em, xâm phạm nghiêm trọng quyền nhân thân và trật tự gia đình - xã hội.

Dấu hiệu để áp dụng

Điều luật được kích hoạt khi có hành vi đánh tráo người dưới 01 tuổi, tức là thay đổi trái phép sự hiện diện, lai lịch hoặc vị trí của trẻ này bằng trẻ khác. Về bản chất, đây là tội có cấu thành hình thức: chỉ cần thực hiện hành vi đánh tráo là đủ, không phải chờ đến khi việc xác định lại quan hệ cha mẹ con, chăm sóc hoặc đăng ký hộ tịch bị xáo trộn mới xử lý. Yếu tố lỗi là cố ý, nên các sự nhầm lẫn vô ý trong chăm sóc, giao nhận trẻ không mặc nhiên cấu thành tội danh này.

Những điểm dễ nhầm trong thực tiễn

Không phải mọi việc giao nhầm trẻ sơ sinh đều là tội phạm. Cần phân biệt giữa đánh tráo có chủ đích với nhầm lẫn nghiệp vụ, sai sót trong bệnh viện hoặc cơ sở nuôi dưỡng nếu không có ý chí tráo đổi. Cũng không đồng nhất tội này với các hành vi mua bán, chiếm đoạt trẻ em hay che giấu trẻ; Điều 152 chỉ điều chỉnh hành vi đánh tráo, tức thay đổi trẻ này bằng trẻ khác.

Các tình tiết làm tăng trách nhiệm hình sự

Khung hình phạt nặng hơn được áp dụng khi hành vi có tổ chức, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp hoặc thực hiện với người dưới 01 tuổi mà mình có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng. Đây là các tình tiết phản ánh mức độ nguy hiểm cao hơn vì người phạm tội thường ở vị trí có điều kiện tiếp cận, kiểm soát hoặc che giấu hành vi. Trường hợp phạm tội có tính chất chuyên nghiệp hoặc tái phạm nguy hiểm thì mức hình phạt tiếp tục tăng, thể hiện chính sách xử lý nghiêm đối với hành vi có tính hệ thống, lặp lại.

Lưu ý khi áp dụng

Khi xem xét một vụ việc cụ thể, trọng tâm không nằm ở việc trẻ có bị thiệt hại về thể chất hay không, mà nằm ở ý chí đánh tráo và hành vi thay thế trái phép. Nếu người thực hiện là người có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ mà cố ý tráo đổi thì tình tiết định khung đã được luật dự liệu riêng. Ngoài hình phạt tù, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung như phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc cấm hành nghề, nhằm ngăn ngừa nguy cơ tái diễn trong môi trường dễ tiếp cận trẻ nhỏ.

Chỉ cần giao nhầm trẻ sơ sinh trong bệnh viện có bị xử lý theo Điều 152 không?
Không. Điều 152 đòi hỏi hành vi cố ý đánh tráo. Sai sót, nhầm lẫn nghiệp vụ nếu không có ý chí tráo đổi thì không cấu thành tội này.
Tội đánh tráo người dưới 01 tuổi hoàn thành khi nào?
Tội phạm hoàn thành ngay khi có hành vi đánh tráo trái phép trẻ dưới 01 tuổi với trẻ khác. Không cần chờ đến khi phát sinh hậu quả đặc biệt.
Người đang chăm sóc trẻ mà tráo đổi trẻ có bị nặng hơn không?
Có. Đây là tình tiết định khung tăng nặng theo khoản 2 Điều 152, vì người phạm tội lợi dụng trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng để thực hiện hành vi.
Điều 152 có áp dụng nếu trẻ đã đủ 01 tuổi không?
Không. Điều luật chỉ bảo vệ người dưới 01 tuổi. Nếu trẻ từ đủ 01 tuổi trở lên, phải xem xét theo tội danh khác phù hợp với hành vi cụ thể.
Ngoài phạt tù, người phạm tội còn bị xử lý gì thêm?
Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 đến 50 triệu đồng và bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm.
Mục lục văn bản