Điều 151 Bộ luật hình sự 2015: Tội mua bán người dưới 16 tuổi

Bình luận pháp lý ngắn gọn về Điều 151 BLHS 2015: dấu hiệu cấu thành, tình tiết định khung và lưu ý áp dụng.

Điều 151. Tội mua bán người dưới 16 tuổi

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

a) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo;

b) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

c) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người dưới 16 tuổi để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

b) Lợi dụng hoạt động cho, nhận con nuôi để phạm tội;

c) Đối với từ 02 người đến 05 người;

d) Đối với người mà mình có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng;

đ) Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

e) Phạm tội 02 lần trở lên;

g) Vì động cơ đê hèn;

h) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm d khoản 3 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

d) Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

đ) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát;

e) Đối với 06 người trở lên;

g) Tái phạm nguy hiểm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Ý nghĩa lập pháp

Điều 151 được thiết kế để bảo vệ đặc biệt người dưới 16 tuổi trước các hành vi mua bán, bóc lột và xâm hại có tổ chức. So với Điều 150, quy định này không chỉ xử lý hành vi “mua bán” theo nghĩa chuyển giao để nhận lợi ích vật chất mà còn bao quát cả các hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp nhằm phục vụ mục đích phạm tội. Cách tiếp cận này cho thấy trọng tâm của điều luật là ngăn chặn toàn bộ chuỗi hành vi đưa trẻ em vào tình trạng bị kiểm soát, khai thác hoặc bị xâm hại nghiêm trọng.

Dấu hiệu cần chú ý khi áp dụng

Để “kích hoạt” Điều 151, yếu tố đầu tiên cần xác định là nạn nhân phải dưới 16 tuổi. Tiếp theo là hành vi khách quan thuộc một trong các nhóm được luật hóa, gồm chuyển giao, tiếp nhận, tuyển mộ, vận chuyển hoặc chứa chấp. Điểm mấu chốt là hành vi phải gắn với mục đích giao nhận tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác hoặc phục vụ bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể, hay mục đích vô nhân đạo khác; trường hợp vì mục đích nhân đạo thì không cấu thành theo điểm a khoản 1.

Những điểm thường bị hiểu sai

Không cần chờ đến khi nạn nhân bị bóc lột thực tế mới xử lý; chỉ cần có hành vi và mục đích luật định là đã đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự. Cũng không nên đồng nhất Điều 151 với các tội xâm hại trẻ em khác, vì điều luật này tập trung vào hành vi mua bán hoặc đưa trẻ em vào chuỗi khai thác, chứ không phải mọi hành vi xâm hại tình dục hay bạo lực đối với trẻ em. Trong thực tiễn, việc “nhận con nuôi”, “cho nhận nuôi” hoặc “giúp đỡ di chuyển” chỉ bị xử lý theo điều này khi có dấu hiệu lợi dụng để thực hiện hành vi phạm tội.

Khung hình phạt và tình tiết định khung

Khoản 2 và khoản 3 thể hiện chính sách tăng nặng rất rõ đối với hành vi có tổ chức, nhiều nạn nhân, có yếu tố xuyên biên giới, tái phạm hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Các tình tiết như lợi dụng chức vụ, quyền hạn; lợi dụng việc cho, nhận con nuôi; đưa nạn nhân ra khỏi biên giới; gây thương tích nặng; làm nạn nhân chết hoặc tự sát đều là căn cứ nâng khung. Khi xác định hình phạt, cần tách bạch giữa tình tiết định khung và hậu quả thực tế để tránh áp dụng chồng lấn hoặc bỏ sót dấu hiệu tăng nặng.

Lưu ý thực tiễn

Trong hồ sơ vụ án, việc chứng minh độ tuổi nạn nhân và mục đích của người phạm tội là hai trục chứng cứ quan trọng nhất. Nếu có nhiều người tham gia, cần làm rõ vai trò của từng người trong chuỗi hành vi: tuyển mộ, vận chuyển, tiếp nhận, che giấu hay hưởng lợi. Ngoài hình phạt tù, Tòa án còn có thể áp dụng phạt tiền, quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc tịch thu tài sản, nên phần quyết định hình phạt phải bám sát tính chất, mức độ và vai trò của từng bị cáo.

Điều 151 có đòi hỏi phải có hành vi “bán” đúng nghĩa không?
Không. Chỉ cần có hành vi chuyển giao, tiếp nhận, tuyển mộ, vận chuyển hoặc chứa chấp người dưới 16 tuổi kèm mục đích luật định là đã có căn cứ xem xét tội phạm.
Có cần nạn nhân thực sự bị bóc lột mới cấu thành tội không?
Không cần. Điều 151 xử lý cả hành vi có mục đích bóc lột hoặc đổi lấy lợi ích vật chất, ngay cả khi hậu quả bóc lột chưa xảy ra.
Lợi dụng nhận con nuôi có thể bị xử lý theo Điều 151 trong trường hợp nào?
Khi việc cho, nhận con nuôi bị lợi dụng làm phương tiện chuyển giao trẻ em để hưởng lợi hoặc nhằm mục đích bóc lột, xâm hại, hoặc mục đích vô nhân đạo khác.
Yếu tố nào quan trọng nhất để xác định đúng khung hình phạt?
Cần xác định đúng độ tuổi nạn nhân, số người bị hại, vai trò tổ chức, yếu tố xuyên biên giới, mức độ tổn hại và các tình tiết tăng nặng được liệt kê trong khoản 2, khoản 3.
Hành vi vì mục đích nhân đạo có bị coi là tội phạm không?
Không, nếu thực sự vì mục đích nhân đạo và không có mục đích đổi lấy lợi ích vật chất hay bóc lột, thì không thuộc điểm a khoản 1 Điều 151.
Mục lục văn bản