Điều 150 Bộ luật hình sự 2015: Tội mua bán người

Bình luận ngắn gọn Điều 150 BLHS 2015: cấu thành, khung hình phạt và lưu ý áp dụng tội mua bán người.

Điều 150. Tội mua bán người

1.[69] Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn khác thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;

b) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

c) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này.

2.[70] Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 08 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Vì động cơ đê hèn;

c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều này;

d) Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

đ) Đối với từ 02 người đến 05 người;

e) Phạm tội 02 lần trở lên.

3.[71] Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

d) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát;

đ) Đối với 06 người trở lên;

e) Tái phạm nguy hiểm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Trọng tâm lập pháp

Điều 150 được xây dựng để hình sự hóa toàn bộ chuỗi hành vi đưa một người vào tình trạng bị kiểm soát, chuyển giao hoặc khai thác như một “đối tượng” chứ không chỉ dừng ở giao dịch mua - bán theo nghĩa thông thường. Cách quy định này cho thấy nhà làm luật tập trung vào thủ đoạn cưỡng ép, lừa dối hoặc lợi dụng, thay vì chỉ nhìn vào hình thức chuyển tiền hay hợp đồng. Vì vậy, dấu hiệu cốt lõi của tội phạm là sự xâm hại đến quyền tự do thân thể, nhân phẩm và quyền được bảo vệ khỏi bóc lột của nạn nhân.

Điều kiện để áp dụng

Muốn áp dụng Điều 150, phải chứng minh được đồng thời thủ đoạn phạm tộimục đích hành vi. Thủ đoạn gồm dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn khác; còn mục đích có thể là giao nhận tiền, tài sản, lợi ích vật chất, bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc mục đích vô nhân đạo khác. Ngoài hành vi “chuyển giao” hoặc “tiếp nhận”, điều luật còn bao phủ các hành vi trung gian như tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp nếu chúng phục vụ cho hành vi mua bán hoặc bóc lột người khác.

Các khung hình phạt tăng nặng

Điều 150 phân tầng trách nhiệm hình sự rất rõ: từ khung cơ bản, tăng lên khi có tổ chức, vì động cơ đê hèn, gây tổn hại sức khỏe, đưa nạn nhân ra khỏi biên giới, phạm tội nhiều lần hoặc đối với nhiều nạn nhân hơn. Khung cao nhất được áp dụng khi hành vi có tính chất chuyên nghiệp, đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân, làm nạn nhân chết hoặc tự sát, hoặc phạm tội đối với 06 người trở lên, tái phạm nguy hiểm. Cách thiết kế này thể hiện quan điểm xử lý nghiêm các đường dây có tổ chức, có tính khai thác cao và hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

Lưu ý khi hiểu đúng bản chất

Không nên đồng nhất tội mua bán người với mọi tranh chấp dân sự hoặc mọi hành vi môi giới lao động, môi giới hôn nhân hay đưa người đi làm ăn xa. Chỉ khi có đủ dấu hiệu cưỡng ép, lừa gạt hoặc thủ đoạn khác nhằm biến người bị hại thành đối tượng bị giao nhận, bóc lột hoặc khai thác thì mới xem xét Điều 150. Một hiểu nhầm thường gặp là chỉ khi nạn nhân bị bán lấy tiền mới cấu thành tội; thực tế, lợi ích vật chất khác hoặc mục đích bóc lột, vô nhân đạo cũng đủ làm phát sinh trách nhiệm hình sự.

Điểm cần chú ý trong thực tiễn

Khi áp dụng điều luật này, cần làm rõ vai trò từng người trong chuỗi hành vi: người tuyển mộ, người vận chuyển, người chứa chấp và người trực tiếp giao nhận đều có thể bị xem xét trách nhiệm nếu cùng hướng tới mục đích phạm tội. Việc xác định hậu quả như thương tích, rối loạn tâm thần, lấy bộ phận cơ thể hay chết người có ý nghĩa trực tiếp đối với định khung hình phạt. Ngoài hình phạt tù, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung như phạt tiền, quản chế, cấm cư trú hoặc tịch thu tài sản, cho thấy đây là nhóm tội phạm cần xử lý cả về trừng phạt lẫn ngăn ngừa tái phạm.

Điều 150 có chỉ xử lý hành vi bán người lấy tiền không?
Không. Điều 150 còn xử lý việc giao nhận người để lấy lợi ích vật chất khác, bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc mục đích vô nhân đạo.
Tuyển mộ hoặc vận chuyển người có bị coi là mua bán người không?
Có, nếu các hành vi này nhằm phục vụ việc chuyển giao, tiếp nhận hoặc bóc lột người theo Điều 150. Đây là hành vi trung gian nhưng vẫn là dấu hiệu phạm tội.
Chỉ khi nạn nhân bị đưa ra nước ngoài mới bị xử lý theo khoản nặng hơn?
Không. Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới là một tình tiết tăng nặng, nhưng còn nhiều tình tiết khác như có tổ chức, phạm nhiều lần, gây thương tích nặng hoặc làm nạn nhân chết.
Người từ đủ 14 tuổi có thể chịu trách nhiệm về tội này không?
Có, nếu hành vi thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 150. Với các trường hợp khác, phải xét theo độ tuổi và năng lực trách nhiệm hình sự.
Mục lục văn bản