Điều 137 Bộ luật hình sự 2015: Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ
Bình luận Điều 137 BLHS 2015 về tội gây thương tích khi thi hành công vụ, điều kiện cấu thành và điểm dễ nhầm.
Điều 137. Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ
1. Người nào trong khi thi hành công vụ dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Đối với 02 người trở lên, mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ.
3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Trọng tâm bảo vệ của điều luật
Điều 137 không nhằm xử lý mọi va chạm xảy ra khi đang thi hành công vụ, mà chỉ nhắm đến trường hợp dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép và gây tổn hại sức khỏe cho người khác. Điểm cốt lõi của điều luật là kiểm soát việc sử dụng quyền lực công, ngăn ngừa lạm dụng cưỡng chế khi thực hiện nhiệm vụ. Vì vậy, đây là quy định gắn với trách nhiệm cá nhân của người thi hành công vụ, không phải cơ chế miễn trừ chỉ vì hành vi phát sinh trong lúc làm nhiệm vụ.
Điều kiện để áp dụng
Muốn kích hoạt Điều 137, cần đồng thời làm rõ ba nhóm yếu tố: chủ thể đang trong quá trình thi hành công vụ; có hành vi dùng vũ lực trái phạm vi pháp luật cho phép; và có hậu quả thương tích hoặc tổn hại sức khỏe đạt mức luật định. Ở khoản 1, tỷ lệ tổn thương cơ thể phải từ 31% đến 60%; ở khoản 2, khung hình phạt tăng nặng khi tỷ lệ từ 61% trở lên, gây thương tích cho từ 02 người trở lên với mỗi người từ 31% trở lên, hoặc đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau, người không có khả năng tự vệ. Cách thiết kế này cho thấy hậu quả và đối tượng bị hại là tiêu chí then chốt để phân hóa trách nhiệm hình sự.
Phân biệt đúng với biện pháp công vụ hợp pháp
Điều luật chỉ loại trừ những trường hợp pháp luật cho phép dùng vũ lực; do đó, không phải mọi việc gây thương tích trong lúc làm nhiệm vụ đều cấu thành tội phạm. Khi hành vi nằm trong giới hạn cưỡng chế hợp pháp, đây là hoạt động công vụ hợp lệ; khi vượt quá giới hạn cần thiết và gây thương tích, trách nhiệm hình sự mới được đặt ra. Trong thực tiễn, điểm dễ nhầm là đồng nhất “đang thi hành công vụ” với “được quyền sử dụng mọi biện pháp”; cách hiểu này trái với bản chất của điều luật.
Những điểm thường bị hiểu sai
Một sai lầm phổ biến là chỉ nhìn vào tỷ lệ thương tật mà bỏ qua yếu tố vượt quá phạm vi pháp luật cho phép. Thực tế, nếu không chứng minh được việc dùng vũ lực trái luật, chưa thể áp dụng Điều 137 dù hậu quả sức khỏe có phát sinh. Ngược lại, cũng không thể viện lý do thi hành công vụ để hợp thức hóa hành vi đánh, đè, khống chế hoặc cưỡng chế vượt mức cần thiết. Ngoài ra, tình tiết tăng nặng ở khoản 2 không chỉ dựa vào mức thương tích mà còn dựa vào tính chất người bị hại và số lượng nạn nhân.
Ý nghĩa thực tiễn khi áp dụng
Điều 137 là công cụ pháp lý để kiểm soát kỷ luật công vụ và bảo vệ quyền con người trong hoạt động quản lý nhà nước. Khi xử lý vụ việc, cần tách bạch rõ: nhiệm vụ được giao, căn cứ sử dụng vũ lực, mức độ cần thiết của biện pháp và kết quả giám định thương tật. Khoản 3 về hình phạt bổ sung cho thấy người phạm tội còn có thể bị hạn chế chức vụ hoặc nghề nghiệp, phản ánh yêu cầu phòng ngừa tái phạm trong các vị trí có quyền lực cưỡng chế.