Điều 663 Bộ luật dân sự 2015: Phạm vi áp dụng
Bình luận Điều 663 BLDS 2015 về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, tiêu chí nhận diện và ý nghĩa áp dụng thực tiễn.
Điều 663. Phạm vi áp dụng
1. Phần này quy định về pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.
Trường hợp luật khác có quy định về pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài không trái với quy định từ Điều 664 đến Điều 671 của Bộ luật này thì luật đó được áp dụng, nếu trái thì quy định có liên quan của Phần thứ năm của Bộ luật này được áp dụng.
2. Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài;
b) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài;
c) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.
Phạm vi điều chỉnh và ý nghĩa của điều luật
Điều 663 đặt “cửa vào” cho toàn bộ cơ chế tư pháp quốc tế trong Bộ luật Dân sự 2015. Mục tiêu của điều luật là xác định đúng loại quan hệ cần áp dụng quy phạm xung đột, từ đó lựa chọn pháp luật điều chỉnh phù hợp, thay vì xử lý theo cách thuần túy nội luật.
Điểm đáng chú ý là điều luật không tự mình chọn luật áp dụng cho từng vụ việc, mà chỉ chỉ ra phạm vi và tiêu chí nhận diện quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Khi đã xác định đúng phạm vi này, việc áp dụng pháp luật sẽ chuyển sang các điều tiếp theo của Phần thứ năm, đồng thời ưu tiên điều ước quốc tế nếu có quy định khác phù hợp.
Tiêu chí để “kích hoạt” điều luật
Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được nhận diện theo ba nhóm dấu hiệu: có ít nhất một bên là cá nhân, pháp nhân nước ngoài; các bên đều là chủ thể Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ xảy ra ở nước ngoài; hoặc các bên đều là chủ thể Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ ở nước ngoài.
Như vậy, yếu tố nước ngoài không chỉ nằm ở quốc tịch hay trụ sở của chủ thể, mà còn có thể nằm ở địa điểm phát sinh sự kiện pháp lý hoặc nơi tồn tại tài sản, đối tượng của quan hệ. Đây là cách tiếp cận rộng, bảo đảm bao quát các giao dịch thực tế có liên hệ với nước ngoài dù chủ thể đều là người Việt Nam.
Điểm cần nắm khi áp dụng
Điều luật này yêu cầu người áp dụng phải xác định đúng bản chất quan hệ trước khi đi vào nội dung tranh chấp. Nếu nhận diện sai yếu tố nước ngoài, toàn bộ bước chọn luật áp dụng có thể bị lệch, kéo theo sai lầm trong giải quyết quyền và nghĩa vụ của các bên.
Quy định tại khoản 1 thể hiện nguyên tắc ưu tiên: nếu luật khác có quy định về pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài mà không trái với các Điều 664 đến 671 thì được áp dụng; nếu trái thì áp dụng quy định của Phần thứ năm Bộ luật Dân sự. Điều này cho thấy Phần thứ năm giữ vai trò khung chung, còn luật chuyên ngành chỉ được vận hành trong giới hạn tương thích.
Hiểu sai thường gặp
Một nhầm lẫn phổ biến là cho rằng cứ có người nước ngoài tham gia thì mọi vấn đề đều đương nhiên theo pháp luật nước ngoài. Thực tế, điều luật chỉ xác định đây là quan hệ có yếu tố nước ngoài; pháp luật áp dụng còn phải được xác định theo các quy tắc tiếp theo và có thể vẫn là pháp luật Việt Nam.
Nhầm lẫn khác là đồng nhất yếu tố nước ngoài với yếu tố chủ thể. Khoản 2 cho thấy quan hệ hoàn toàn giữa các chủ thể Việt Nam vẫn có thể là quan hệ có yếu tố nước ngoài nếu sự kiện pháp lý phát sinh ở nước ngoài hoặc đối tượng của quan hệ ở nước ngoài.
Lưu ý thực tiễn
Khi xử lý một vụ việc, cần kiểm tra đồng thời ba lớp thông tin: chủ thể, nơi phát sinh giao dịch và nơi có đối tượng của quan hệ. Chỉ cần một trong các dấu hiệu tại khoản 2 xuất hiện thì đã đủ cơ sở xác định đây là quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.
Trong thực tiễn tố tụng và tư vấn, Điều 663 thường là bước lập luận đầu tiên để chứng minh thẩm quyền áp dụng cơ chế tư pháp quốc tế. Vì vậy, việc xác định yếu tố nước ngoài phải rõ ràng, cụ thể và gắn với tình tiết của từng quan hệ, không nên suy diễn từ cảm tính hoặc từ tên gọi của giao dịch.