Điều 388 Bộ luật dân sự 2015: Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực
Bình luận Điều 388 BLDS 2015 về thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực, cách xác định và các lưu ý thực tiễn.
Điều 388. Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực
1. Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực được xác định như sau:
a) Do bên đề nghị ấn định;
b) Nếu bên đề nghị không ấn định thì đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
2. Các trường hợp sau đây được coi là đã nhận được đề nghị giao kết hợp đồng:
a) Đề nghị được chuyển đến nơi cư trú, nếu bên được đề nghị là cá nhân; được chuyển đến trụ sở, nếu bên được đề nghị là pháp nhân;
b) Đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được đề nghị;
c) Khi bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua các phương thức khác.
Ý nghĩa của quy định
Điều 388 đặt ra mốc hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng để xác định rõ khi nào bên được đề nghị bắt đầu bị ràng buộc bởi một đề xuất giao kết có giá trị pháp lý. Cách thiết kế này bảo đảm sự minh bạch trong trao đổi ý chí, tránh tranh chấp về việc đề nghị đã gửi đi nhưng chưa đến nơi hoặc chưa được tiếp nhận. Quy định cũng phản ánh nguyên tắc tôn trọng quyền chủ động của bên đề nghị trong việc ấn định thời điểm phát sinh hiệu lực.
Điểm cần nắm khi áp dụng
Nếu bên đề nghị ấn định thời điểm có hiệu lực, thời điểm đó sẽ được ưu tiên áp dụng. Chỉ khi bên đề nghị không ấn định, pháp luật mới chuyển sang mốc bên được đề nghị nhận được đề nghị, trừ trường hợp luật liên quan quy định khác theo Điều 388 Bộ luật Dân sự 2015. Vì vậy, khi xem xét một tranh chấp, cần kiểm tra trước hết nội dung đề nghị có ghi rõ thời điểm hiệu lực hay không.
Khoản 2 Điều 388 cũng làm rõ thế nào là đã nhận được đề nghị. Với cá nhân, việc chuyển đến nơi cư trú; với pháp nhân, việc chuyển đến trụ sở; hoặc đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được đề nghị đều có thể được coi là đã nhận. Ngoài ra, nếu bên được đề nghị biết được nội dung đề nghị qua phương thức khác thì cũng đủ căn cứ xác định đã nhận được đề nghị.
Cách hiểu đúng và sai dễ nhầm
Một hiểu nhầm phổ biến là cho rằng chỉ cần bên đề nghị đã gửi đi thì đề nghị tự động có hiệu lực. Thực tế, nếu không có mốc thời gian do bên đề nghị ấn định thì việc gửi đi chưa đủ; phải đến khi bên được đề nghị nhận được đề nghị mới phát sinh hiệu lực. Do đó, thời điểm gửi, thời điểm đến và thời điểm biết được đề nghị là các mốc khác nhau, không được đồng nhất.
Một nhầm lẫn khác là chỉ coi việc giao bằng văn bản trực tiếp mới làm phát sinh hiệu lực. Điều luật đã bao quát cả các phương thức điện tử và các cách thức khác, miễn là chứng minh được bên được đề nghị đã nhận hoặc đã biết được đề nghị. Trong thực tiễn, chứng cứ về thời điểm gửi, thời điểm hệ thống tiếp nhận và nội dung thông báo là yếu tố rất quan trọng.
Lưu ý thực tiễn
Điều 388 thường phải được đọc cùng với các quy định về thay đổi, rút lại và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng. Xác định sai thời điểm có hiệu lực sẽ kéo theo sai lệch về thời hạn trả lời và hiệu lực của việc chấp nhận. Vì vậy, khi soạn thảo đề nghị, nên ghi rõ thời điểm hiệu lực, phương thức nhận và căn cứ xác minh đã nhận được đề nghị.
Trong tranh chấp, bên đưa ra đề nghị cần chứng minh được thời điểm đề nghị đến tay hoặc đến hệ thống của bên được đề nghị. Ngược lại, bên được đề nghị nếu muốn phản bác hiệu lực của đề nghị phải tập trung vào việc chưa nhận được, chưa biết được hoặc việc tiếp nhận chưa đáp ứng tiêu chí luật định. Đây là điều khoản mang tính kỹ thuật nhưng có tác động trực tiếp đến việc hợp đồng có thể được hình thành hay không.