Điều 230 Bộ luật dân sự 2015: Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên

Bình luận Điều 230 BLDS 2015 về xác lập quyền sở hữu đối với tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên, trọng tâm áp dụng thực tế.

Điều 230. Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên

1. Người phát hiện tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên mà biết được địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc trả lại tài sản cho người đó; nếu không biết địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã nơi gần nhất để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại.

Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã đã nhận tài sản phải thông báo cho người đã giao nộp về kết quả xác định chủ sở hữu.

2. Sau 01 năm, kể từ ngày thông báo công khai về tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên mà không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu không đến nhận thì quyền sở hữu đối với tài sản này được xác định như sau:

a) Trường hợp tài sản bị đánh rơi, bỏ quên có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì người nhặt được được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản đó theo quy định của Bộ luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; trường hợp tài sản có giá trị lớn hơn mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì sau khi trừ chi phí bảo quản, người nhặt được được hưởng giá trị bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định và 50% giá trị của phần vượt quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định, phần giá trị còn lại thuộc về Nhà nước;

b) Trường hợp tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên là tài sản thuộc di tích lịch sử - văn hóa theo quy định của Luật di sản văn hóa thì tài sản đó thuộc về Nhà nước; người nhặt được tài sản được hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định của pháp luật.

Ý nghĩa của quy định

Điều 230 nhằm ngăn chặn việc chiếm giữ tài sản bị đánh rơi, bỏ quên trái với sự ngay tình, đồng thời tạo cơ chế minh bạch để chủ sở hữu có cơ hội nhận lại tài sản. Quy định này không khuyến khích việc “giữ làm của riêng” ngay từ thời điểm nhặt được, mà đặt nghĩa vụ thông báo hoặc giao nộp lên hàng đầu. Chỉ khi đã thực hiện đúng trình tự mà chủ sở hữu vẫn không xuất hiện trong thời hạn luật định thì mới xem xét chuyển dịch quyền sở hữu.

Điều kiện để áp dụng

Điều luật chỉ được kích hoạt khi tài sản là tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên và người phát hiện không phải là chủ sở hữu hợp pháp. Nếu người nhặt được biết địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên, họ phải thông báo hoặc trả lại trực tiếp; nếu không biết địa chỉ thì phải giao nộp cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã nơi gần nhất. Cơ quan tiếp nhận có trách nhiệm thông báo công khai và thông báo kết quả xác định chủ sở hữu cho người đã giao nộp.

Trọng tâm khi áp dụng

Mốc thời gian 01 năm được tính từ ngày thông báo công khai mà không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu không đến nhận. Sau thời hạn này, việc xác lập quyền sở hữu phụ thuộc vào giá trị tài sản và tính chất pháp lý của tài sản đó. Với tài sản có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng mười lần mức lương cơ sở, người nhặt được có thể được xác lập quyền sở hữu; với tài sản có giá trị lớn hơn mức này, người nhặt được chỉ được hưởng phần giá trị luật định, phần còn lại thuộc Nhà nước.

Nếu tài sản thuộc di tích lịch sử - văn hóa thì kết quả pháp lý khác hẳn: tài sản thuộc về Nhà nước và người nhặt được chỉ được hưởng tiền thưởng theo quy định. Đây là điểm cho thấy điều luật ưu tiên bảo vệ giá trị văn hóa, lịch sử hơn lợi ích tài sản thông thường.

Hiểu đúng về “quyền sở hữu”

Nhiều trường hợp nhầm lẫn rằng cứ nhặt được tài sản rồi chờ một thời gian là đương nhiên sở hữu toàn bộ. Cách hiểu này không đúng, vì quyền của người nhặt được chỉ phát sinh khi đã thực hiện đúng nghĩa vụ thông báo hoặc giao nộp và hết thời hạn luật định mà chủ sở hữu không đến nhận. Nếu tự ý chiếm giữ, sử dụng, tẩu tán hoặc cố tình không khai báo thì không thể viện dẫn Điều 230 để hợp thức hóa hành vi của mình.

Một nhầm lẫn khác là coi mọi tài sản nhặt được đều xử lý như nhau. Thực tế, pháp luật phân biệt rõ giữa tài sản có giá trị nhỏ, tài sản có giá trị lớn và tài sản thuộc di tích lịch sử - văn hóa; mỗi loại có hậu quả pháp lý khác nhau. Khi áp dụng, cần đặc biệt lưu ý yếu tố giá trị tài sản và nguồn gốc của tài sản để xác định đúng chế độ pháp lý.

Lưu ý thực tiễn

Trong tranh chấp cụ thể, chứng cứ về việc đã thông báo, giao nộp, niêm yết công khai và thời điểm hết thời hạn 01 năm là rất quan trọng. Người nhặt được nên lập tức giao nộp hoặc thông báo đúng nơi có thẩm quyền để bảo toàn quyền lợi hợp pháp của mình sau này. Với tài sản có dấu hiệu là cổ vật, di vật hoặc tài sản gắn với di tích, cần xử lý thận trọng theo quy định chuyên ngành, không chỉ theo Bộ luật Dân sự.

Nhặt được tài sản thì có được giữ luôn không?
Không. Người nhặt được phải thông báo hoặc giao nộp theo quy định; chỉ khi hết thời hạn luật định mà chủ sở hữu không đến nhận mới xem xét quyền sở hữu.
Sau bao lâu người nhặt được có thể xác lập quyền sở hữu?
Sau 01 năm kể từ ngày thông báo công khai mà không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu không đến nhận.
Tài sản giá trị lớn được xử lý thế nào?
Người nhặt được được hưởng phần giá trị luật định; phần giá trị còn lại sau khi trừ chi phí bảo quản thuộc về Nhà nước.
Nếu tài sản là cổ vật hoặc thuộc di tích lịch sử - văn hóa thì sao?
Tài sản thuộc về Nhà nước; người nhặt được chỉ được hưởng tiền thưởng theo quy định pháp luật.
Mục lục văn bản