Điều 132 Bộ luật dân sự 2015: Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu

Bình luận Điều 132 BLDS 2015 về thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu và các lưu ý áp dụng thực tiễn.

Điều 132. Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu

1. Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu quy định tại các Điều 125, 126, 127, 128 và 129 của Bộ luật này là 02 năm, kể từ ngày:

a) Người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch;

b) Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối;

c) Người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép;

d) Người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình xác lập giao dịch;

đ) Giao dịch dân sự được xác lập trong trường hợp giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức.

2. Hết thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều này mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực.

3. Đối với giao dịch dân sự quy định tại Điều 123 và Điều 124 của Bộ luật này thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế.

Ý nghĩa của quy định về thời hiệu

Điều 132 phản ánh quan điểm lập pháp coi việc yêu cầu tuyên bố vô hiệu không thể kéo dài vô hạn, đặc biệt với các giao dịch vô hiệu tương đối như nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép, người xác lập không nhận thức được hành vi hoặc vi phạm hình thức. Mục tiêu của quy định là buộc chủ thể có quyền phải phản ứng kịp thời, đồng thời bảo vệ sự ổn định, an toàn của giao lưu dân sự. Sau khi hết thời hiệu mà không có yêu cầu, giao dịch được xác định có hiệu lực theo khoản 2 Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015.

Điểm cần nắm khi áp dụng

Điều luật không ấn định một mốc chung theo ngày giao dịch được xác lập cho mọi trường hợp, mà tính từ thời điểm người có quyền biết hoặc phải biết sự kiện làm phát sinh quyền yêu cầu. Cách tính này phù hợp với bản chất của từng căn cứ vô hiệu: nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hay người đại diện của người chưa thành niên biết việc xác lập giao dịch. Riêng với giao dịch vi phạm về hình thức, thời hiệu vẫn là 02 năm nhưng được tính từ ngày giao dịch được xác lập, nên đây là điểm dễ nhầm lẫn trong thực tiễn.

Nhóm giao dịch chịu thời hiệu 02 năm

Thời hiệu 02 năm áp dụng đối với các trường hợp vô hiệu theo Điều 125, 126, 127, 128 và 129 Bộ luật Dân sự 2015. Đây là nhóm giao dịch vô hiệu tương đối, tức quyền yêu cầu thuộc về chủ thể bị xâm hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ. Nếu không có yêu cầu trong thời hạn luật định, Tòa án không đặt giao dịch vào tình trạng vô hiệu chỉ vì các bên viện dẫn căn cứ này sau khi thời hiệu đã hết.

Hai trường hợp không bị hạn chế thời hiệu

Giao dịch vô hiệu theo Điều 123 và Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015 không bị giới hạn thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu theo khoản 3 Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015. Đây là nhóm giao dịch xâm phạm lợi ích công, trật tự công hoặc mang tính giả tạo, nên pháp luật không đặt giới hạn thời gian cho việc yêu cầu xử lý. Trong thực tiễn, đây là điểm phân biệt quan trọng với các trường hợp vô hiệu tương đối để tránh áp dụng nhầm thời hiệu 02 năm cho mọi giao dịch vô hiệu.

Lỗi hiểu sai thường gặp

Lỗi phổ biến là cho rằng mọi giao dịch vô hiệu đều hết quyền yêu cầu sau 02 năm kể từ ngày ký kết. Cách hiểu này sai vì khoản 3 Điều 132 loại trừ rõ Điều 123 và Điều 124. Một nhầm lẫn khác là cho rằng vi phạm hình thức đương nhiên “chữa được” bằng cách bổ sung thủ tục sau khi hết thời hiệu; thực tế, khi thời hiệu đã hết mà không có yêu cầu, giao dịch đã được xem là có hiệu lực theo khoản 2 Điều 132.

Lưu ý thực tiễn

Khi tư vấn hoặc tranh tụng, cần xác định chính xác căn cứ vô hiệu, thời điểm bắt đầu tính thời hiệu và người có quyền yêu cầu. Chỉ cần xác định sai một trong ba yếu tố này, kết luận về hiệu lực giao dịch và quyền khởi kiện có thể thay đổi hoàn toàn. Điều 132 vì vậy là quy phạm về thời gian nhưng tác động trực tiếp đến chiến lược chứng minh, thời điểm khởi kiện và khả năng bảo vệ quyền lợi của đương sự.

Thời hiệu 02 năm được tính từ lúc nào?
Tùy căn cứ vô hiệu, thời hiệu được tính từ khi người có quyền biết hoặc phải biết sự kiện làm phát sinh quyền yêu cầu; riêng vi phạm hình thức tính từ ngày giao dịch được xác lập.
Hết 02 năm thì giao dịch tự động vô hiệu hay có hiệu lực?
Hết thời hiệu mà không có yêu cầu tuyên bố vô hiệu thì giao dịch được coi là có hiệu lực theo khoản 2 Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015.
Điều 123 và Điều 124 có áp dụng thời hiệu 02 năm không?
Không. Yêu cầu tuyên bố vô hiệu theo Điều 123 và Điều 124 không bị hạn chế thời hiệu theo khoản 3 Điều 132.
Vi phạm hình thức có thể yêu cầu tuyên vô hiệu sau nhiều năm không?
Không. Trường hợp này cũng chịu thời hiệu 02 năm; hết thời hiệu mà không yêu cầu thì giao dịch có hiệu lực.
Mục lục văn bản